MÁY NẤU VÀNG

MayNauVang.com


Để lại bình luận

GỐC RỄ VỀ NẤU CHẢY KIM LOẠI (Phần 1)

Để chế tác đồ trang sức, phải dựa trên cơ sở của nguyên lý luyện kim: Nấu chảy kim loại là một quá trình được thực hiện nhiều lần trong ngày tại xưởng theo một hình thức đặc biệt nhờ vào việc sử dụng các công cụ và thiết bị có liên quan đến tất cả các công đoạn làm việc sau đó.
Trong chương này, chúng ta sẽ phân tích các nguyên lý của quá trình nóng chảy, nguồn nhiệt, khuyết tật, tính chất của các kim loại và hợp kim.

 

I. ĐỊNH NGHĨA:
Nấu chảy là quá trình làm cho các thành phần khác nhau của một hợp kim quý nóng chảy và hợp nhất với nhau theo quy luật hóa học.
may nau vang, máy nấu vàng, lo nau vang, lò nấu vàng
Hình 1

II. NGUYÊN TẮC:
Được biết, sự liên kết giữa các nguyên tử là rất bền ở nhiệt độ môi trường xung quanh. Khi nhiệt độ tăng, các nguyên tử bắt đầu di chuyển cho đến khi chúng vượt qua lực liên kết giữa chúng với nhau (Sự di chuyển này tăng lên gấp đôi, khi gia tăng nhiệt độ đến ngưỡng 15° K tương ứng với 258° C). Ngoài ra, quá trình phát triển hạt cũng diễn ra.
Khi nhiệt độ nóng chảy tăng lên, bắt đầu diễn ra việc làm tan rã mạng tinh thể từ ranh giới hạt cho đến hạt nhân (xem hình 1): Trước khi trở thành chất lỏng hoàn toàn, vật chất kể cả kim loại nguyên chất hay hợp kim, vẫn giữ nguyên ở dạng nửa rắn hay mềm hơn khi nhiệt độ ngày càng tăng, phân định rõ được hai điểm nóng chảy đầu và cuối.
Với lập luận này, chúng ta có thể thấy những đường cong làm nguội T-t (hình 2), trong đó a) đường cong đại diện cho tính chất của một kim loại tinh khiết, b) là đường cong của một hợp kim, c) là đường cong một hợp kim cùng tinh, d) là đường cong của một hợp kim không cùng tinh.
may nau vang, máy nấu vàng, lo nau vang, lò nấu vàng
Hình 2

III. SỰ HÓA RẮN (SỰ ĐÔNG ĐẶC):
Tương tự như vậy, trong quá trình ngược lại, đó là sự hóa rắn, ban đầu các kim loại bắt đầu thay đổi chỉ trong một vài điểm, bình thường tập trung xung quanh tất cả các hạt tạp chất lơ lửng trong chất lỏng hay gần thành khuôn. Trong tự nhiên, hiện tượng này xảy ra bất cứ lúc nào khi bên trong vẫn còn nước làm lạnh khuôn. Sự tập trung của các hạt rắn xung quanh những hạt nhân và các hạt liên tục lan truyền giống như một tinh thể ở dạng lưới hình học.

IV. CÁC TẠP CHẤT:
Điều quan trọng là các nguyên tố kết hợp với nhau cùng nóng chảy càng tinh khiết càng tốt cũng như các tạp chất tập trung vào ranh giới hạt tạo ra điểm nóng chảy thấp. Điều đó có nghĩa là, trong quá trình nóng chảy, các tạp chất như vậy có thể gây ra tính dòn trong các công đoạn xử lý nhiệt (ủ và hàn) và công đoạn làm lạnh. Ví dụ, ngay cả một lượng nhỏ chì (0,05%) hay an-ti-mon cũng gây thiệt hại lớn trong công việc. Ngoài ra, còn có các tạp chất chứa trong phế phẩm được tạo ra qua quá trình chế tác được tái sử dụng lại cũng cần phải lưu tâm trong tính toán pha chế: Nên sử dụng theo tỷ lệ 50% cùng với các nguyên liệu thô và cần được làm sạch bằng cách xử lý với axit.

V. DẠNG NHÁNH CÂY:
Trở lại với sự hóa rắn, chúng ta có thể tưởng tượng các hạt bị hóa rắn đầu tiên như một khối lập phương nhỏ lơ lửng trong vật đúc: Nó lan rộng về phía góc của khối lập phương với các nhánh nhọn mô phỏng sáu mặt của khối lập phương đó. Theo các hướng thứ hai và thứ ba khác, các nhánh của các điểm khác cũng đồng thời phát triển để tạo thành một loại hình dạng giống như cây được gọi là dạng nhánh cây. Trong hình 3, chúng ta có thể quan sát một minh họa về hình dạng nhánh cây phát triển theo ba hướng đặc biệt.
may nau vang, máy nấu vàng, lo nau vang, lò nấu vàng
Hình 3

VI. SỰ PHÁT TRIỂN HẠT:
Bây giờ, chúng ta có thể tưởng tượng được rằng quá trình hóa rắn liên quan đến sự phát triển của hạt nhân bằng cách bổ sung các nguyên tử kèm theo việc sắp xếp các mạng và có mức phát triển nhất định theo các hướng khác nhau. Mỗi tinh thể duy trì hình dạng thông thường đặc trưng cho quá trình phát triển theo hình dạng riêng của từng loại tinh thể, cho đến khi sự phát triển của nó bị kìm hãm bởi các tinh thể liền kề.
Khi các nhánh cây được bắt nguồn từ những hạt nhân thì việc phát triển đạt được ở mỗi nhánh mỗi khác, như hình dạng đường giao nhau không theo qui luật nào hết, được gọi là “ranh giới hạt” (xem hình 4).
may nau vang, máy nấu vàng, lo nau vang, lò nấu vàng
Hình 4
Khu vực xung quanh ranh giới hạt được đặc trưng bởi cấu trúc rối loạn hơn và có năng lượng mạnh hơn.
Hiện vẫn còn một số kim loại lỏng xung quanh các cành của các nhánh cây. Tuy nhiên, khi nhiệt độ dần dần giảm xuống, số kim loại lỏng này chịu tác động của sự giảm nhiệt độ nhiều hơn và trở nên hóa rắn hơn, cho đến khi tất cả các khoảng trống được hóa rắn hoàn toàn.

VII. TỐC ĐỘ LÀM NGUỘI:
Hiện nay, người ta đã xử lý được thay đổi nhiệt độ một cách độc lập trong khoảng thời gian diễn ra sự thay đổi đó.
Tham số thời gian là quan trọng bởi vì nó có thể ảnh hưởng đến sự hình thành hạt tinh thể. Vì vậy, nó thích hợp để đưa ra ý tưởng về tốc độ làm nguội. Suy cho cùng, mỗi hạt nhân chuyển thành hạt, kích thước cuối cùng của hạt này sẽ phụ thuộc vào số lượng các hạt nhân. Bằng cách làm nguội chậm, vài hạt nhân được tạo ra, trong số đó có thể phát triển mà không gặp trở ngại nào khi kích thước hạt tăng tương đối lớn (xem hình 5).
Thay vào đó, bằng cách làm nguội nhanh, nhiều hạt nhân hơn được tạo ra nhưng chúng không phát triển tất cả cùng một lúc. Nếu nhiệt độ giảm nhanh thì một số hạt nhân sẽ hình thành, trước khi các hạt nhân trước đó có thể trở nên lớn hơn. Như vậy, hạt nhân phát triển bị chèn ép bởi những hạt nhân lân cận, kết quả là nó không thể phát triển tiếp và khiến cho kích thước của nó tương đối nhỏ. Nói chung, kích thước hạt nhỏ hơn, các tính chất cơ học của nó tốt hơn: Đó là độ bền, độ dẻo và độ cứng. Do đó, thuận tiện để nấu chảy kim loại thúc đẩy sự hình thành các hạt nhỏ. Trong thực tế, các tạp chất không hòa tan như oxit, có xu hướng còn tồn đọng trong chất lỏng còn lại vẫn được hóa rắn và tạo thành một lớp liên tục dễ vỡ của vật chất trên các cành của nhánh cây và trên ranh giới hạt.
Nếu nhiều lớp khác tạo thành như một trong những mô tả trước đây, kim loại nóng chảy trở nên giòn và cứng có thể gia công trên máy.

may nau vang, máy nấu vàng, lo nau vang, lò nấu vàng


Để lại bình luận

LÒ TRUNG TẦN (Melting Machines)

may nau vang, máy nấu vàng, lo nau vang, lò nấu vàng

may nau vang, máy nấu vàng, lo nau vang, lò nấu vàng

GIỚI THIỆU:

Màu :              Xanh – trắng
Model:            FM.001 – FM.0030
Size cốc nấu : 1kg, 2kg-2.5kg, 3kg – 4kg, 5kg – 6kg, 8kg, 10kg, 20kg, 30kg

Điện áp:          1 pha 220V 50/60Hz
3 pha 380V 50/60Hz
Tốc độ nấu:    3 – 5 phút
Nhiệt độ nấu: 1200 độ C
MADE IN VIETNAM

MÔ TẢ:
1. Lò nấu model FM được phát triển để ứng dụng nấu vàng, bạc, đồng, thau, kim loại màu…
2. Ứng dụng công nghệ IGBT, công suất ngõ ra lớn, hiệu suất cao.
3. Hệ thống bảo vệ an toàn cao và đáng tin cậy như: bảo vệ quá áp, quá dòng, hệ thống kiểm tra nhiệt độ nước…
4. Điều chỉnh nhiệt độ tự động, điều chỉnh công suất nấu nhanh chậm, cách nhiệt cách điện tốt.
5. Màn hình LCD hiển thị nhiệt độ vỏ cốc nấu, nhiệt độ cài khi nấu, và một số lỗi trong quá trình hoạt động.
6. Hoạt động 100% công suất trong 24 giờ.
7. Tốc độ nấu nhanh, tiết kiệm điện, tiết kiệm vật liệu, đạt hiệu suất tối đa.
8. Máy được thiết kế nhỏ gọn, đơn giản dễ di chuyển và vận hành.
9. Đặt biệt có hệ thống tản nhiệt nước bên trong phù hợp cho những cửa hàng, nhà xưởng có không gian hẹp.

may nau vang, máy nấu vàng, lo nau vang, lò nấu vàng

BẢO HÀNH 1,5 NĂM

ỨNG DỤNG:
– Nấu đổ thảo vàng, bạc, đồng, thau và kim loại màu.
– Nấu pha vàng, bạc trước khi đúc.
– Nấu đúc thau nhanh, hiệu quả, an toàn.

HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG
QUI ƯỚC CÁC NÚT NHẤN ĐIỀU KHIỂN:

may nau vang, máy nấu vàng, lo nau vang, lò nấu vàng

BƯỚC 1:
– Chuẩn bị nguồn điện vào 220V/380V
– Cần một CB tổng, loại CB C63 (63A)
– Qui ước dây điện nguồn vào:
. Đối với lò 1Kg, 2Kg-2,5Kg: Điện 1pha, tiết diện dây 3,0mm2 trở lên, chịu được 15A
. Đối với lò 3Kg-3,5Kg: Điện 1pha, tiết diện dây 5,0mm2 trở lên, chịu được 25A đến 35A
Điện 3pha, tiết diện dây 3,0mm2 trở lên, chịu được 15A
. Đối với lò 4Kg, 5Kg: Điện 1pha, tiết diện dây 8,0mm2 trở lên, chịu được 35A đến 50A
Điện 3pha, tiết diện dây 5,0mm2 trở lên, chịu được 20A
– Chăm nước vào máy (khoảng 6-8lít) đối với máy có hệ thống giải nhiệt trong máy
– Chuẩn bị bồn nước 220lít đến 500lít đối với máy không có hệ thống giải nhiệt trong hay xả thải với những đối tượng nấu liên tục và nhiều
BƯỚC 2:
– Kết nối lò với hệ thống điện thích hợp
– Kết nối hệ thống nước theo từng loại lò

BƯỚC 3:
– Đặt cốc nấu vào vòng nấu cảm ứng
– Mở CB tổng, CB nguồn trước máy, chờ lò khởi động khoảng 5 giây cho đến khi màn hình hiển thị ổn định
may nau vang, máy nấu vàng, lo nau vang, lò nấu vàng
Ý NGHĨA CỦA CÁC THÔNG TIN HIỂN THỊ TRÊN MÀN HÌNH:

may nau vang, máy nấu vàng, lo nau vang, lò nấu vàng

Số 1: Hiển thị nhiệt độ bên ngoài vỏ cốc nấu, chỉ tăng lên trong quá trình nấu
Số 2: Hiển thị nhiệt độ cài đặt, khi nhiệt độ đo được bằng nhiệt độ cài đặt thì lò chạy ở công suất thấp nhất 0%
Số 3: Hiển thị công suất lò đang nấu từ 0% đến 100%
Số 4: Hiển thị đo nhiệt độ nước, bộ tản nhiệt… Khi nhiệt độ này quá 600 C thì lò tự động tắt. Đồng thời cũng hiển thị báo lổi khi xảy ra sự cố trong quá trình nấu của lò như:
. Lò quá nóng
. Hệ thống làm mát có vấn đề

Số 5: Hiển thị cường độ dòng điện (A) của lò khi nấu
BƯỚC 4: Nhấn nút START để khởi động lò, đèn của nút này sẽ sáng
BƯỚC 5: Sử dụng hai nút UP (+) và nút DOWN (-) để lựa chọn nhiệt độ nấu thích hợp cho từng loại vật liệu nấu, cài đặt trước cho lò. Thao tác tăng / giảm nhiệt độ nấu cài đặt cho lò hiển thị trên màn hình (Số 2)

BƯỚC 6: Dùng nút xoay để điều chỉnh công suất nấu của lò.
– Xoay nút ngược chiều kim đồng hồ thì công suất nấu giảm về 0%, đồng thời cường độ dòng điện (A) cũng giảm theo.
– Xoay nút theo chiều kim đồng hồ thì công suất nấu tăng đến 100%, đồng thời cường độ dòng điện (A) cũng tăng theo
Thao tác tăng / giảm công suất nấu cài đặt cho lò hiển thị trên màm hình (Số 3)
Lúc ban đầu, khởi động lò nên chỉnh công suất lò 100% để tăng cường độ dòng điện lên làm cho vật liệu nhanh nóng chảy. Khi thấy vật liệu nóng chảy thì giảm công suất lò xuống từ 50% đến 60% để giảm cường độ dòng điện và duy trì cho đến khi nấu xong.
Việc điều chỉnh công suất lò tăng /giảm sao cho hợp lý còn tùy thuộc vào kinh nghiệm của người thợ lò.
BƯỚC 7: Tạm dừng lò thì nhấn nút STOP. Khi nhấn nút này thì đèn ở nút START sẽ tắt.
Nút này chỉ sử dụng khi lò nấu xong.
BƯỚC 8: Dùng kẹp gắp cốc nấu ra khỏi lò và tiến hành đúc
BƯỚC 9: Khi tiếp tục nấu mẻ tiếp theo, trước tiên, đặt cốc nấu trở lại vòng nấu cảm ứng và lập lại thao tác từ BƯỚC 4.
BƯỚC 10: Khi không nấu nữa thì nhấn nút STOP, lần lượt tắt CB nguồn trước máy rồi đến CB tổng. Cốc nấu lấy ra khỏi lò và để nguội tự nhiên trong môi trường.


Để lại bình luận

ĐỔI MỚI ĐỂ TIẾN TỚI

Qui luật tất yếu của cuộc sống là luôn luôn đổi mới để phát triển. Do đó, nếu đi ngược lại với qui luật này sẽ nhận sự đào thải là điều hiển nhiên. Chúng ta đang chịu sự chi phối của qui luật đổi mới hàng ngày. Tùy từng lĩnh vực trong cuộc sống sẽ chịu sự tác động của qui luật đổi mới khác nhau. Lĩnh vực kinh doanh và sản xuất chịu tác động của qui luật đổi mới nhiều nhất và thường xuyên nhất. Những người làm kinh doanh hay sản xuất đều biết rõ tầm quan trọng của vấn đề này nhưng đổi mới như thế nào cho phù hợp không phải là chuyện ngày một ngày hai.
may nau vang, máy nấu vàng, lo nau vang, lò nấu vàng
Nữ trang là những mặt hàng làm đẹp cho chị em phụ nữ, cho nên, đòi hỏi phải có sự đa dạng về mẫu mã, về chủng loại để đáp ứng thị hiếu cũng như sự kỹ tính của chị em phụ nữ. Do đó, nếu không có sự đổi mới thường xuyên trong tư duy, trong sáng tạo thì không thể tạo nên sự đột phá về mẫu mã, về chủng loại trong ngành kim hoàn. Đồng nghĩa với việc không tạo ra được cái hồn, cái thần thái trên từng sản phẩm nữ trang thì đâu còn ý nghĩa “Tôn vinh vẻ đẹp cuộc sống”.
may nau vang, máy nấu vàng, lo nau vang, lò nấu vàng
Đổi mới phải đi đôi với sự phù hợp, với thực tế của doanh nghiệp. Tất nhiên, để đổi mới, trước hết, phải trải qua một quá trình tìm hiểu, thử nghiệm, sau đó, chọn ra giải pháp phù hợp, sát với thực tế nhất. Việc mày mò tìm ra giải pháp đổi mới trong sản xuất không phải doanh nghiệp kim hoàn nào cũng đủ sức, đủ tầm thực hiện. Mặt khác, các chủ doanh nghiệp kim hoàn còn bận rộn, lo toan biết bao chuyện từ nhỏ đến lớn của doanh nghiệp mình nên không có “đầu óc nào” để tính toán đến chuyện “ĐỔI MỚI ĐỂ TIẾN TỚI”, mặc dù vẫn biết rằng: Đó là sự sống còn của doanh nghiệp. Chẳng lẻ, vì cái khó ban đầu như vậy lại làm “chùn chân” những người có tư duy đổi mới?

Mọi chuyện đều có cách giải quyết, chẳng qua các doanh nghiệp kim hoàn chưa nghĩ ra cách tiếp cận sự đổi mới về công nghệ, về thiết bị máy móc khi cứ loanh quanh tìm kiếm trong nước, trong khi thế giới đã đi trước chúng ta hàng thế kỹ. Thời đại công nghệ thông tin giúp chúng ta hiểu nhiều về thế giới nhưng cũng nhấn chìm chúng ta trong “núi thông tin” khổng lồ. Cái quan trọng là tìm đúng thông tin chúng ta cần trong cái “núi thông tin” đó.
may nau vang, máy nấu vàng, lo nau vang, lò nấu vàng
Nhiều vấn đề nan giải gây khó khăn cho các doanh nghiệp kim hoàn trong nước khi nghĩ đến sự đổi mới về công nghệ. Do đó, khiến họ cảm thấy mệt mỏi và bế tắc vì không tìm ra hướng đi phù hợp theo yêu cầu đổi mới. Vì vậy, doanh nghiệp kim hoàn trong nước rất cần sự định hướng cụ thể, sự tư vấn xác thực giúp họ tháo gở khó khăn về công nghệ, thực hiện mục đích đổi mới.

may nau vang, máy nấu vàng, lo nau vang, lò nấu vàng

Nhận thấy những giới hạn chủ quan lẫn khách quan đã khiến các doanh nghiệp kim hoàn trong nước khó nắm bắt được những thông tin về công nghệ mới chế tác nữ trang trên thế giới. Công ty TNHH Dịch vụ Nghề kim hoàn THIỆN CHÍ xin được góp một phần công sức nhỏ nhoi vào sự phát triển chung của ngành kim hoàn trong nước thông qua nhịp cầu kết nối các doanh nghiệp kim hoàn trong nước với các doanh nghiệp kim hoàn nước ngoài.
may nau vang, máy nấu vàng, lo nau vang, lò nấu vàng
Với bề dày hoạt động trong lãnh vực kim hoàn, với quá trình học hỏi, trao đổi kinh nghiệm qua những chuyến đi dài ngày trên nước Ý, chúng tôi đã tạo được mối quan hệ rộng rãi cùng với sự hợp tác THIỆN CHÍ của các doanh nghiệp kim hoàn Ý. Hy vọng với sự giúp đở về công nghệ cùng với máy móc thiết bị tương ứng từ đối tác Ý sẽ thúc đẩy ngành kim hoàn trong nước phát triển. Vì vậy, chúng tôi chọn ngành kim hoàn Ý để giới thiệu đến các doanh nghiệp kim hoàn trong nước tìm hiểu và học hỏi kinh nghiệm đổi mới của họ. Nước Ý là nơi có nền công nghệ sản xuất nữ trang tiên tiến, nơi dẫn đầu về xu thế chế tạo máy móc, thiết bị chế tác nữ trang đuợc xếp vào hàng đầu thế giới. Có như thế, chúng ta mới “Đi tắt đón đầu”, hòa nhập nhanh vào trào lưu đổi mới và phát triển vượt trội của ngành kim hoàn thế giới.
may nau vang, máy nấu vàng, lo nau vang, lò nấu vàng
Chúng tôi có lợi thế là hiểu rõ ngành kim hoàn trong nước cần gì, thiếu gì. Cho nên, chúng tôi có thể thường xuyên cập nhật, chọn lọc, giới thiệu và tư vấn những công nghệ mới lạ, độc đáo cùng với máy móc thiết bị của Ý phù hợp với qui trình sản xuất, đáp ứng yêu cầu đổi mới công nghệ, cải tiến chất lượng sản phẩm, nâng cao năng suất sản xuất, từng bước đưa ra giá cạnh tranh nhất trên thương trường cho các doanh nghiệp kim hoàn trong nước.
Hãy đến với chúng tôi vì THIỆN CHÍ của chúng tôi là tư vấn cho các doanh nghiệp kim hoàn trong nước về vấn đề đổi mới công nghệ cùng thiết bị máy móc chế tác trang sức theo công nghệ nước ngoài. Các doanh nghiệp kim hoàn trong nước có muốn cùng chúng tôi “ĐỔI MỚI ĐỂ TIẾN TỚI” không nào?
may nau vang, máy nấu vàng, lo nau vang, lò nấu vàng


Để lại bình luận

Chất khử tạp chất trong nấu luyện

I. Định nghĩa: Chất khử tạp chất trong nấu luyện là những chất được sử dụng để tinh luyện hợp kim lỏng, có nghĩa là chúng có tác dụng ngăn chặn hay làm giảm bất kỳ nhân tố nào tạo nên tạp chất trong hợp kim, ví dụ: Oxy trong không khí.

 
II. Điều kiện tiên quyết:
Chúng phải thỏa hai điều kiện sau:
– Chúng phải tạo thành một lớp nổi trên bề mặt của hợp kim nóng chảy ngăn tiếp xúc với không khí
– Chúng phải phản ứng với các oxit hiện diện trong hợp kim nóng chảy dưới dạng xỉ và được “hớt bỏ đi” trước khi đúc

 
III.Phân loại: Các chất khử tạp chất phổ biến nhất là:
1) Hàn the (pyroborate natri): Là chất khử tạp chất quan trọng nhất đối với các hợp kim vàng: Khi nóng chảy ở 741độ C, nó tạo thành một lớp thủy tinh trên thành trong nồi nấu và thúc đẩy sự hóa lỏng kim loại. Hàn the là muối của axit boric. Do đặc tính kết hợp nhiều với nước nên nó tạo thành các tinh thể có kích thước lớn và trong suốt. Nói chung, hàn the khan được sử dụng thay cho tetraborat natri ngậm nước (Na3B4O7.10H2O), vì khi nung nóng, nước thoát ra và đọng lại ở dạng bong bóng khí, chúng có thể làm tăng độ giòn trong hợp kim. Bởi vì, khi gặp nhiệt, vào khoảng 400độ C thì hàn the bị vôi hóa khiến 10 phân tử nước bị trương nở.
Như vừa nói trên, hàn the nóng chảy ở 741độ C và chuyển đổi thành hỗn hợp metaborate natri và oxit bo ở dạng lỏng:
Na2B4O7              =           2NaBO2                +           B2O3
Hàn the                        Metaborate Natri                   Oxit Bo
Oxit Bo chuyển đổi oxit kim loại bất kỳ không mong muốn thành metaborate. Metaborate natri dễ dàng hòa lẫn với metaborate vừa mới hình thành và kéo chúng ra khỏi hợp kim, cho phép phản ứng mới của oxit bo bắt đầu.
Ngược lại, axit boric ở 900độ C tạo một lớp xỉ dày trên bề mặt kim loại ngăn chặn các tạp chất khác xâm nhập vào hợp kim. Hàn the có tính chất hoà tan oxit nhiều hơn ngay cả ở nhiệt độ thấp hơn. Axit boric có điểm nóng chảy (870độ C) cao hơn so với hàn the, tạo thành một lớp cặn dày trên kim loại và do đó phù hợp hơn cho nấu chảy hợp kim vàng trắng.
2) Soda (cacbonat natri – Na2CO3): Là muối của axit carbonic và có dạng tinh thể lớn màu sáng với 10 phân tử nước. Nó được bán ở dạng bột màu trắng, khan nước. Thợ kim hoàn sử dụng nó như là chất khử tạp chất để nấu chảy các chất cần bề mặt láng, vì nó nóng chảy ở 860độ C và chuyển đổi các oxit kim loại có trong dung dịch nóng chảy thành cacbonat dưới dạng xỉ. Màu ngọn lửa của nó là màu vàng.

Na2CO3        + CuO            =           CuCO3           +             Na2O
Soda            Oxit đồng              Cacbonate đồng               Oxit natri

 
3) Cacbonat Kali (K2CO3): Có hoạt tính linh hoạt hơn so với soda (Na2CO3) nhưng ăn mòn nồi nấu kim loại nhiều hơn bất kỳ loại muối nào khác. Nó nóng chảy ở 897độ C. Nếu kali được tạo ra từ dung dịch khử nóng chảy thì màu ngọn lửa của nó là màu tím.

 
4) Nitrat Kali (KNO3): Được sử dụng để tinh luyện bởi vì nó có khả năng hòa tan bất kỳ
kim loại cơ bản. Nó có thể làm sáng màu vàng, trong khi đó, nếu thêm vào bạc, nó có thể mất màu bạc.

 
5) Hỗn hợp khác: Hỗn hợp của nhiều chất khử tạp chất kết hợp với nhau nhằm nâng cao tính chất của từng chất riêng lẻ bất kỳ và thay đổi nhiệt độ nóng chảy của chúng. Công thức đầu tiên xác lập về mối liên hệ giữa axit boric và soda:
H2B4O7             +             Na2CO3          =            Na2B4O7        +         H2CO3
Acid boric                             Soda                              Hàn the                   Acid boric
Như chúng ta có thể thấy, kết quả của hỗn hợp này là tạo ra hàn the – một chất rẻ tiền . Hàn the có điểm nóng chảy tương đối cao, ví dụ, nó chỉ được kích hoạt ở nhiệt độ khoảng 50độ C dưới điểm cùng tinh Ag-Cu (779độ C). Nói cách khác, các hợp kim có thể sẽ bị oxy hóa ngay trước khi hàn the có thể tạo thành một lớp bảo vệ. Các chất khử tạp chất khác, chẳng hạn như cacbonat kali (K2CO3), soda (Na2CO3) hay clorua natri (NaCl) phản ứng ở nhiệt độ cao hơn.
Đôi khi, sự kết hợp diễn ra giữa các chất khử tạp chất khác nhau có thể hạ điểm nóng chảy của hợp kim xuống so với từng chất riêng lẻ bất kỳ. Cacbonat kali (K2CO3) và soda (Na2CO3) nóng chảy ở 690độ C nhưng nếu chúng ta thêm muối ăn (NaCl) vào soda (Na2CO3), chúng sẽ làm cho nhiệt độ nóng chảy giảm nhẹ còn 620độ C.
Nếu chúng ta thêm hàn the vào cacbonat kali (K2CO3) thì chúng ta sẽ có được tỷ lệ phần trăm của cả hai metaborate kali và metaborate natri cao hơn, được dễ dàng loại bỏ dưới dạng xỉ cùng với oxit bo:
K2CO3               +             Na2B4O7      =    2KBO2           +           2NaBO2             +      CO2
Cacbonate Kali                   Hàn the         Metaborate Kali        Metaborate Natri        Cacbonic
Nhiệt độ làm việc của hàn the có thể được nâng lên bằng cách pha trộn các hỗn hợp sau đây:
4 phần soda (Na2CO3) + 4 phần cacbonat kali (K2CO3) + 2 phần hàn the
Hay là cho hợp kim có điểm nóng chảy thấp hơn:
2 phần clorua natri (NaCl) + 1 phần cacbonat kali (K2CO3) + 2 phần hàn the

6) Cuối cùng, chúng tôi sẽ phân tích một số chất được sử dụng như chất khử tạp chất tùy theo một hay nhiều nguyên nhân sử dụng.
Chất khử tạp chất dùng tinh luyện là Amoni clorua (NH4Cl), có khả năng làm bốc hơi các tạp chất kim loại theo không khí.
Hexachloroethane (Hexa-cloro-etan C2Cl6): Được đưa vào dưới dạng viên, kết hợp với các chất khí tồn đọng bên trong hợp kim nóng chảy và kéo chúng ra bằng cách làm bay hơi vào không khí.
Trong số các chất bảo vệ, có khả năng tạo thành một lớp xỉ trên bề mặt dung dịch nóng chảy, chúng tôi gợi ý là bột thủy tinh và chất fluorit (hay florua canxi CaF2).
Trong số các chất khử (có khả năng phản ứng với oxy để tạo thành oxit dễ bay hơi), bên cạnh một số chất vừa đề cập trên, chúng tôi thêm nitrat natri (NaNO3), có khả năng hòa tan các tạp chất ngay cả tạp chất nhẹ chứa trong vàng, nhưng khá độc hại vì tỏa ra khí nitơ trong không khí. Than và mùn cưa, xyanua kali (KCN), kẽm, ca-di-mi (hàm lượng chỉ với 0,5% là đủ, đặc biệt là trong hợp kim bạc, khi nóng chảy, nó có thể hòa tan một lượng lớn oxy, tuy nhiên, khói của nó thì độc hại). Photpho đồng (chỉ một tỷ lệ nhỏ là đủ để tinh luyện vàng có carat thấp, vì nó cho phép giảm dư lượng photpho đồng kết tủa trên rìa tinh thể gây ra tính dòn).
Silicon, canxi, bo, li-thi, sun-phua (nó ăn mòn sắt). Đây là những tác nhân làm sạch và là những chất khử tạp chất sau cùng có tác dụng để phục hồi phế phẩm của vàng hơn là dùng để tinh luyện các hợp kim nóng chảy.

 
IV. Sử dụng với kim loại quý:
Liên quan đến sự nóng chảy của kim loại quý tinh khiết, dùng chất khử tạp chất thì vô ích, bởi vì không có quá trình oxy hóa diễn ra. Trái lại, sự hiện diện của chất khử tạp chất có thể gây trở ngại cho đúc. Vàng nguyên chất, cụ thể, có bề ngoài phát sáng khi nóng chảy và khi nguội đi không có hình dạng phồng lên hay lẫn tạp chất (chúng ta biết rằng vàng nguyên chất không hấp thụ oxy từ không khí cũng như không phản ứng với các vật liệu làm nồi nấu kim loại). Trong trường hợp này, thay vào đó, kim loại quý nên được tinh luyện, chất làm sạch đặc biệt sẽ được sử dụng trong quá trình tan chảy.

 
V. Sử dụng với hợp kim:
Hợp kim kim loại thay thế kim loại thì có phản ứng khác, vì chúng được cấu tạo từ kim loại cơ bản có xu hướng bị ôxy hóa. Ví dụ: Trong trường hợp của hợp kim vàng, lớp cặn của axit boric hay bột hàn the được sử dụng để ngăn chặn tiếp xúc với oxy trong không khí, như đã nêu ở trên.

 
VI. Màu của chất khử tạp chất:
Có thể xác định được loại oxit đã hòa tan bởi màu của chất trợ dung sau khi nóng chảy. Trong thực tế, nếu xuất hiện màu như thủy tinh và không màu thì chứng tỏ không có oxit hòa tan. Trong khi, màu xanh lá – xanh lơ có nghĩa là chất khử tạp chất đã kết hợp với oxit đồng và màu xám chứng tỏ có kẽm hay oxit ca-di-mi.


Để lại bình luận

KHUÔN ĐÚC NẰM VÀ KHUÔN ĐÚC ĐỨNG

Khuôn đúc nằm (hay còn gọi là khuôn đổ thảo) là dạng khuôn chứa hở, thường làm bằng gang, dùng để rót kim loại nóng chảy vào đó khi đúc. Sau khi làm nguội khuôn, sẽ thu được phôi đúc có dạng thỏi hay dạng thanh. Trong hình 1, giới thiệu khuôn đúc nằm ngang bằng gang gồm có 3 vách ngăn chạy dọc theo chiều dài khuôn, 2 rãnh khuôn đúc phôi dạng thanh và mặt dưới là 1 tấm đế khuôn. Trong hình 2 là khuôn đúc nằm có 4 vách ngăn chạy dọc theo chiều dài khuôn, 3 rãnh khuôn đúc phôi dạng thanh và mặt dưới là 1 tấm đế khuôn. Mặt trên của khuôn hoàn toàn để trống để thuận tiện cho việc rót kim loại nóng chảy và theo dỏi việc điền đầy khuôn. Kích thước của phôi đúc chỉ giới hạn về bản rộng và chiều dài theo khuôn.
may nau vang, máy nấu vàng, lo nau vang, lò nấu vàng

Trong hình 3, giới thiệu khuôn đúc thỏi, chúng được dùng để đúc kim loại nóng chảy lần đầu thành một khối như thỏi phôi. Việc dùng khuôn đúc thỏi bảo đảm phôi đúc ra đạt được độ mịn đồng nhất trong toàn thỏi phôi đúc so với phôi đúc dạng thanh, thích hợp cho việc gia công cán kéo và nấu lại sau này. Khuôn đúc thỏi thường được dùng trong đúc nóng chảy liên tục.
may nau vang, máy nấu vàng, lo nau vang, lò nấu vàng

SỬ DỤNG ĐÚNG CÁCH:
Rõ ràng, nếu khuôn đúc nằm được bảo quản cẩn thận và xử lý vệ sinh trước khi đúc thì kết quả cho ra phôi có bề mặt được nhẵn. Trước khi đúc hợp kim nóng chảy, cần thiết phải làm nóng khuôn đúc nằm trong khoảng nhiệt độ từ 100 đến 150 độ C để loại bỏ bất kỳ sự ẩm ướt và bôi nhẹ bên trong lòng khuôn một lớp dầu dày (dầu hạt lanh đun sôi) để ngăn chặn hợp kim nóng chảy dính chặt vào lòng khuôn, sau này khó lấy ra. Đối với hợp kim vàng, muội than được sử dụng để phủ bên trong lòng khuôn, chúng bị lửa đốt cháy gây ra nhiều khói đen, qua đó tạo lớp cách ly tốt giữa hợp kim vàng với thành trong của khuôn. Nếu khuôn đúc nằm lạnh trong khi đúc thì bề mặt của thỏi đúc hay thanh đúc sẽ trở nên bất thường và xù xì.

 
KHUÔN ĐÚC ĐỨNG:

may nau vang, máy nấu vàng, lo nau vang, lò nấu vàng

Để phù hợp cho việc gia công các kim loại, khuôn đúc đứng được thay thế cho khuôn đúc nằm. Chúng được làm bằng thép và được đánh bóng lòng trong khuôn để phôi đúc ra có được bề mặt nhẵn. Trong hình 4, chúng ta có thể nhìn thấy khuôn đúc đứng cho tấm có kích thước khác nhau (chúng được phân loại trên cơ sở kích thước của chúng, ví dụ 120x45x5cm (hay 120x45x8cm) với dung tích 340g cho hợp kim vàng 18Kt và trọng lượng khuôn đúc đứng là 1,650 kg) và khuôn đúc đứng cho thanh có tiết diện vuông vát góc.

 
Như chúng ta có thể nhận thấy, khuôn đúc đứng được cấu thành từ một tấm thẳng đứng với mặt nghiêng và mặt ngược lại có bề mặt chịu lực.
Sau khi đã cố định vị trí khuôn chính xác, dùng một cái kẹp để giữ chặt khuôn. Đặc điểm của loại khuôn này là có thể thay đổi diện tích mặt cắt ngang nhưng vẫn giữ bề dày không thay đổi.

 
Thậm chí, khuôn còn được bố trí lỗ thoát hơi bên trên cũng chính là chổ để rót kim loại nóng chảy vào khuôn trong quá trình đúc. Cách đúc đúng nhất là giữ khuôn hơi nghiêng và rót kim loại lỏng từ từ lúc đầu tiên, sau đó tăng dần tốc độ rót lên. Để giải quyết vấn đề đúc ở trên, khuôn đúc đứng đặt nghiêng trước có bán trên thị trường. Cứ thế mà rót kim loại lỏng vào khuôn mà không cần phải quan tâm giữ cho khuôn nghiêng như trước.

 
Hơn nữa, trong quá trình rót kim loại lỏng vào khuôn, nên dùng ngọn lửa hoàn nguyên có cường độ đốt yếu được tạo ra mỏ hàn hơi propan bao phủ miệng rót của cốc nấu, có như thế thì nhiệt độ của kim loại lỏng không giảm và kim loại lỏng không hấp thụ oxy.
Liên quan đến nhiệt độ của khuôn đúc đứng trong quá trình đúc, những thận trọng như thế khi thao tác về khuôn đúc là hợp lý.

 
Khi muốn đúc các thanh phôi nối tiếp nhau và có độ tinh khiết, người thợ đúc thích dùng khuôn đúc phẳng và rộng (tức là khuôn nằm) để tạo thuận lợi cho quá trình hóa lỏng (vì các hợp kim có xu hướng tập trung nhiều ở bên dưới nên tạo được sự đồng nhất về độ mịn cao hơn so với loại khuôn đứng cao và hẹp)

 
CÁCH MỞ KHUÔN ĐỨNG:
Khi thanh phôi đúc gần như đông cứng hoàn toàn, người thợ đúc bắt đầu mở khuôn và nhúng chúng vào nước lạnh. Điều đó, khiến cho các nhánh xương dẫn dòng kim loại nóng chảy liên thông với các phôi đúc chính trong khuôn tách ra khỏi lòng khuôn kim loại.Trong trường hợp này, khi thanh phôi đúc được lấy ra thì các nhánh xương dẫn này cuối cùng cũng theo phôi đúc tách ra khỏi lòng khuôn. Các nhánh xương dẫn này sẽ được loại bỏ bằng cách phải đập nhẹ thì chúng sẽ rời ra.

 
Nếu có sự hiện diện của bất kỳ đốm màu nào khác trên bề mặt của thanh phôi đúc thì đó là do sunfua kim loại hình thành. Thanh phôi đúc có thể được làm sạch với một miếng vải ướt thấm axit nitric và sau đó rửa sạch lại với nước.


Để lại bình luận

NẤU CHẢY VÀNG, BẠC VÀ CÁC LOẠI HỘI

I. NẤU CHẢY KIM LOẠI NGUYÊN CHẤT:
1. Vàng nguyên chất:
Khi vàng ở dạng tinh thể, nó có thể nóng chảy mà không cần các biện pháp đặc biệt để bảo vệ hay ngăn chặn tiếp xúc với không khí, vì nó không tác dụng với oxy. Nó còn một dạng khác là bột vàng thu được bằng cách phân ly. Để loại bỏ tạp chất bất kỳ, bột vàng được trộn với ni-trat ka-li và hàn the. Sau đó, chúng được làm ướt bằng nước và cho vào nồi nấu. Dưới tác động của nhiệt độ cao, nước trong bột vàng bốc hơi hết cho đến khi bột vàng nóng chảy hoàn toàn.

 
2. Bạc nguyên chất:
Cũng giống như vàng nguyên chất, bạc ở dạng tinh thể có thể nóng chảy mà không có bất kỳ khó khăn nào. Như đối với bạc thu được bằng cách phân ly, nếu clorua bạc được nấu chảy để lấy bạc trực tiếp thì phần lớn kim loại bạc sẽ bị mất đi do hòa lẫn với xỉ. Do đó, làm giảm lượng kim loại bạc được tạo ra. Hơn nữa, một số tạp chất vẫn còn dư lượng clo. Cho nên, bạc còn lại hòa trộn với xút (Na2CO3) và kết hợp với clo hòa lẫn vào xỉ. Than có thể là một chất khử oxy tốt, vì nó hấp thụ oxy và các chất khí khác.

 
II. NẤU CHẢY CÁC LOẠI HỘI:
Việc bổ sung các kim loại nguyên chất bằng các nguyên liệu không nguyên chất, chẳng hạn như đồng cũ, tiền xu bằng đồng hay đồng được sử dụng trong các loại dây cáp điện và dây điện thoại, có thể làm ảnh hưởng đến tính chất của các loại hội, vì chúng dễ chứa tạp chất.
Các nguyên liệu để hình thành nên các loại hội thường đủ cả lượng và chất, chỉ cần thêm một chút hàn the làm chất khử ô-xy. Để ngăn chặn sự hòa lẫn oxy không mong muốn, các thành phần sau đây có thể được thêm vào nồi nấu:
– 3 phần than sạch
– 2 phần đường
– 1 phần muối a-mô-ni-ắc
Với hỗn hợp này sẽ tạo thành một vùng khử oxy tốt nhất trên bề mặt của nồi nấu nóng chảy.
may nau vang, máy nấu vàng, lo nau vang, lò nấu vàng
1. Hội Bạc – Đồng:
Trước tiên, người thợ đứng lò phải quan tâm không để cho đồng bị oxy hóa hoàn toàn hay bị oxy hóa một phần. Do đó, khi đồng nóng chảy nên quan tâm đặc biệt bằng cách thêm một lượng nhỏ a-xit bo-ric (H3BO3) để hình thành một lớp bảo vệ trên bề mặt kim loại. Ngoài ra, tốt hơn nên sử dụng đồng với hàm lượng oxy rất thấp sẽ không gặp bất kỳ sự rắc rối gì trong quá trình làm việc. Chúng ta phải biết rằng: Do khối lượng riêng của đồng cao, nên đồng cần nhiều nhiệt hơn so với bạc để đạt được nhiệt độ nóng chảy. Nếu quá nóng, bạc bốc hơi mất, cứ trung bình 100 kg bạc mất đi 200 g bạc và tỏa ra hơi màu xanh.
Khi hội nấu chảy đạt yêu cầu đúc thì nó tạo thành cấu trúc dạng hình vòm hay hình cầu sáng có khuynh hướng không dính vào thành nồi nấu. Sau khi nấu và đến gần nhiệt độ nóng chảy của hội, nồi nấu nên ngưng nấu một vài phút để làm nguội cho nồi nấu có thời gian cứng lại. Sau đó, hội nóng chảy được rót vào ống thạch cao mà trước đó đã được đun nóng đến khoảng 100 – 150 độ C, lúc đầu tiên nên rót từ từ, sau đó nhanh dần lên, có nghĩa là để ý đến ngọn lửa ở miệng rót của nồi nầu yếu dần cho đến khi tắt hẳn.

 
2. Hội Vàng – Bạc – Đồng:
Để pha chế loại hội gồm ba thanh phần này, đầu tiên đồng và bạc được xếp trước vào đáy nồi nấu, sau đó vàng được cho vào sau. Thực hiện theo đúng trình tự này sẽ bảo vệ được chúng và tránh được quá trình oxy hóa. Tất cả các biện pháp phòng ngừa đã đề cập cho bạc vẫn còn giá trị như: Tránh quá nhiệt, hạn chế tiếp xúc với không khí, đặc biệt là đối với các hợp kim vàng đỏ có xu hướng bị xỉn màu.

 
3. Vàng – Bạc – Đồng – Kẽm và chất kết dính:
Đặc trưng của nấu chảy loại hội này cũng giống như nấu chảy các kim loại có nhiệt độ nóng chảy thấp. Quan điểm cho rằng sự nóng chảy của kim loại xảy ra tại vị trí của điểm nóng chảy kim loại theo thang đo là không đúng sự thật. Nói chung, kim loại nguyên chất nóng chảy đầu tiên, sau đó đến kim loại nền. Để ngăn chặn sự bốc hơi và quá trình oxy hóa của kim loại có nhiệt độ nóng chảy thấp, được khuyến cáo khi pha chế hội nên pha chế chúng trước, chẳng hạn, ví dụ như: Kẽm với đồng thau hay Các-mi-di (Cd) với bạc.
Sự bay hơi của Các-mi-di (Cd) trong thành phần của hợp kim bạc có thể được ngăn ngừa bằng cách nấu chảy bạc đầu tiên và để nguội trong nồi nấu. Sau đó, Các-mi-di (Cd) được thêm vào và nó bị nhiệt độ còn lại của phản ứng tạo hợp kim bạc với các phần tử bạc làm cho nóng chảy. Cuối cùng, các hợp kim mới được nung nóng để thúc đẩy hơn nữa sự hợp nhất. Nếu chúng ta không muốn tạo hợp kim kẽm với bạc thành đồng thau, nhưng với kim loại nguyên chất riêng lẻ thì chúng ta sẽ phải làm như vừa mô tả.
Hợp kim Au-Cu-Ag-Cd có thể được pha chế bằng cách kết hợp hợp kim Au-Cu với hợp kim Ag-Cd, tương tự, các kết hợp sau đây cũng có thể là: Au-Cu với Ag-Zn hay Au-Cu với Cu-Zn và Ag–Cd …vv…
may nau vang, máy nấu vàng, lo nau vang, lò nấu vàng
III. HỘI NẤU LẠI:
1. Phế phẩm nguyên chất:
Phế phẩm nguyên chất là phế phẩm không có tạp chất. Để làm nóng chảy phế phẩm không có tạp chất, chỉ cần có chúng là đủ và sử dụng hàn the có nồng độ thấp như chất khử oxy để tạo một lớp bao phủ chúng ngăn tiếp xúc với oxy. Việc nấu lại phế phẩm nguyên chất có tầm quan trọng vì nấu rất nhanh không tốn nhiều thời gian và không cần nấu ở nhiệt độ rất cao.

 
2. Phế phẩm không nguyên chất:
Phế phẩm không nguyên chất là phế phẩm có tạp chất. Tất cả các loại hội đều có một số khiếm khuyết thuộc về dạng hầu như không chịu được gia công hay không thể gia công. Nếu khiếm khuyết xảy ra trong quá trình làm việc (Ví dụ: Các vết nứt hình thành trong quá trình cán do không được ủ mềm) thì khi nấu lại chỉ cần nấu riêng lẻ hội là đủ mà không cần bổ sung các chất khử oxy đặc biệt. Các tạp chất có trong thành phần của hội có thể tạo ra bất kỳ các khiếm khuyết khác.

 
3. Nấu lại với chất khử oxy:
Đây là dạng nấu chảy dùng để làm sạch nồi nấu, được áp dụng khi các tạp chất có thể được tạo ra bởi oxy hay các loại khí khác kết hợp với kim loại ở trạng thái tinh khiết hay hợp kim.
Phổ biến nhất và cũng là sự kết hợp oxy không có lợi nhất trong các hợp kim quý là oxit đồng (Cu2O), đó là một hợp chất ổn định ngay cả ở nhiệt độ cao, nó chỉ có thể được phân hủy ở trạng thái lỏng bằng chất khử. Việc nấu chảy để phản ứng khử xảy ra có thể thực hiện theo những cách sau:
a) Đối với việc có mặt của nhiều tạp chất, như thế là đủ để làm theo những gì đã trình bày trong phần liên quan đến chất khử oxy
b) Bằng cách thêm 0,5% Các-mi-đi (Cd) có thể loại bỏ dễ dàng một lượng lớn oxy từ nồi nấu
c) Phốt pho đồng là một chất khử mạnh cần thiết, tuy nhiên khi cho thêm vào phải tính toán liều lượng cực kỳ chính xác. Nói chung, chỉ cần cho thêm 1% phốt pho đồng có chứa khoảng 0,15% phốt pho là đủ. Sự phân hủy của các oxit có thể xảy ra theo trình tự các phản ứng sau:
5Cu2O + 2P -> P2O5 + 10Cu              (1)
Cu2O + P2O5 -> 2CuPO3                    (2)
10CuPO3 + 2P -> 6P2O5 + 10Cu       (3)
Sự phân hủy bắt đầu với phản ứng (1) tạo ra oxit phốt pho (P2O5) ở dạng khí. Phần tử Cu2O dần dần trở nên ít đi theo phản ứng (2) do sự hình thành của phốt phát đồng (CuPO3). Phốt phát đồng này được hòa tan một phần theo phản ứng (3), trong khi các phần tử khác sẽ trở thành xỉ không hòa tan trong nồi nấu kim loại. Lớp khí P2O5 đóng vai trò như lớp phủ bảo vệ trên bề mặt nồi nấu.
Thật đáng tiếc, chất khử quan trọng này có nhược điểm gây bất lợi cho toàn bộ hội vì tính không hòa tan của nó, thậm chí chỉ một phần nhỏ khoảng 0,0001% phốt pho cũng không hòa tan. Do đó, các hợp kim có tính giòn như Ag2P, Cu3P, Ni3P có điểm cùng tinh nên nhiệt độ nóng chảy thấp. Vì vậy, chúng sẽ bốc hơi nhanh, làm hao hụt các kim loại cần thiết như Ag, Cu, Ni trước khi hội đạt nhiệt độ nóng chảy.

 
4. Nấu chảy với chất oxy hóa:
Khi các tạp chất chứa trong hội có thể được tạo ra bởi các mảnh kim loại không nguyên chất như Pb, Sn, Zn, Al, vv .., chúng sẽ dễ dàng được nấu chảy bằng chất oxy hóa có khả năng kết hợp bất kỳ tạp chất dưới dạng oxit và chuyển đổi thành xỉ.

 
5. Bạch kim (Platinum):
Trước đây, bạch kim được nấu chảy bằng phương pháp luyện kim bột. Bột bạch kim ban đầu được nén và làm nóng càng lâu càng tốt và sau đó dập nóng. Nấu chảy bạch kim trong nồi nấu bằng than chì thông thường không thể sử dụng được vì bạch kim sẽ ăn mòn và hòa tan Các-bon, tạo ra khuyết tật bộng xốp bên trong phôi. Ở nhiệt độ cao phản ứng hóa học có thể dễ dàng xảy ra, nhôm, silicon và canxi tác dụng với các thành phần của nồi nấu và gây ra một số bất lợi vì chúng tạo thành hợp kim có tính giòn với bạch kim. Đó là lý do tại sao chỉ có vôi (CaO) được sử dụng trong nấu chảy bạch kim. Nói chung, chất giúp nóng chảy và chất oxy hóa là không cần thiết.
Lò điện cảm ứng là nguồn nhiệt lý tưởng và khả năng duy nhất để nấu chảy bạch kim mà không có bất kỳ bất lợi nào.

may nau vang, máy nấu vàng, lo nau vang, lò nấu vàng


Để lại bình luận

NỒI NẤU KIM LOẠI

1. ĐỊNH NGHĨA:
Nồi nấu là nơi chứa kim loại, trong đó sẽ diễn ra quá trình nấu chảy kim loại. Do nấu chảy kim loại phải cần nhiệt độ cao và duy trì nhiệt độ đó trong khoảng thời gian lâu nhất có thể được, nên nồi nấu phải chịu nhiệt.

2. TÍNH CHỊU NHIỆT:
Một nồi nấu có tính chịu nhiệt phải được làm bằng vật liệu có nhiệt độ nóng chảy trên 2000 độ C, một số các vật liệu này được giới thiệu trong bảng dưới đây:
may nau vang, máy nấu vàng, lo nau vang, lò nấu vàng
Tuy nhiên, một số hợp chất của các vật liệu này thậm chí còn chịu nhiệt cao hơn, chẳng hạn như cac-bua si-lic, bo-rit, si-li-cat zir-co-ni, ni-trit và một số o-xit.
Các vật liệu chịu nhiệt ở nhiệt độ cao nhất bao gồm 11% zir-co-ni cac-bua và 89% tan-ta-li cac-bua, có nhiệt độ nóng chảy là 3.942 độ C. Nó là một loại vật liệu có khả năng ngăn cac-bon nóng chảy.
Thợ kim hoàn thường sử dụng vật liệu chịu nhiệt làm bằng than chì (dạng thù hình của cac-bon), cac-bua si-lic trộn với đất sét hay ma-nhê-sit nung và đất sét nung (có giá thành đắt hơn).

3. THAN CHÌ (GRAPHITE)
Nồi nấu kim loại bằng than chì (graphite) có chất lượng hàng đầu được làm bằng than chì (graphite) dạng phiến đến từ đảo Tích Lan, giàu quặng sắt các-bon-nát (si-đê-rit). Chúng phải được xử lý cẩn thận và giữ ở một nơi khô ráo: Trước khi sử dụng lần đầu, chúng phải được đun nóng và làm lạnh từ từ, nếu không chúng có thể bị nứt.
Hơn nữa, trong quá trình làm nóng sơ bộ, thành nồi nấu phải được xử lý bằng hàn the (bo-rax) để hình thành một lớp thủy tinh dày có khả năng bảo vệ thành nồi nấu trước nguy cơ bị o-xy hóa từ các hợp kim nóng chảy và ngăn chặn việc tạo ra tạp chất do các hạt than chì tách ra từ thành nồi nấu.
Nồi nấu kim loại rất đắt tiền, nhưng mặt khác, nếu biết sử dụng chúng một cách cẩn thận thì có thể kéo dài tuổi thọ của chúng.
Những nồi nấu kim loại này rất thích hợp cho bạc và hợp kim vàng, vì chúng có thể được sử dụng nhiều lần và trong suốt quá trình nấu chảy, chúng có thể ngăn ngừa tình trạng thất thoát kim loại nóng chảy do bốc hơi. Trên thực tế, trong quá trình nóng chảy, cac-bon chứa trong than chì của nồi nấu kim loại phản ứng với o-xy trong không khí và tạo thành một lớp o-xit cac-bon nổi trên bề mặt hợp kim nóng chảy chứa bên trong nồi nấu. Lớp o-xit cac-bon (CO) này ngăn chặn sự hình thành các o-xit khác trên bề mặt và có xu hướng thay đổi o-xit cơ bản thành kim loại gốc.
Từ nhận xét trên, chúng ta hãy xem ví dụ về quá trình o-xy hóa đồng:
Cu2O + CO = Cu + CO2
Đây là lý do tại sao các thợ kim hoàn lâu năm thường dùng cái mẹo là đặt một mảnh nhỏ cac-bon cho nổi trên bề mặt hợp kim nóng chảy trong nồi nấu, do đó ngăn ngừa quá trình o-xy hóa.

4. ĐẤT SÉT:
Nồi nấu kim loại bằng đất sét chịu lửa thực sự được làm bằng đất sét nhưng phải loại bỏ chất nhờn, sắt và đá vôi, sau đó trộn với cát thạch anh và bột gạch. Khác với nồi nấu kim loại bằng than chì, loại nồi nấu kim loại này tránh nung quá lâu. Nồi nấu kim loại bằng đất sét thì rẻ tiền hơn so với nồi nấu kim loại bằng than chì, nhưng tuổi thọ thì không cao như nồi nấu kim loại bằng than chì. Nếu chúng được xử lý nhiệt như nhau và được bao phủ một lớp hàn the (bo-rax) thì những nồi nấu kim loại bằng đất sét này ít hư hỏng hơn so với những nồi nấu kim loại bằng than chì. Nồi nấu kim loại bằng đất sét chịu nhiệt phù hợp với nấu chảy ni-ken – kim loại cơ bản có trong vàng trắng. Không thể sử dụng nồi nấu kim loại bằng than chì để nấu chảy ni-ken vì ni-ken có thể phản ứng với cac-bon có trong nồi nấu kim loại bằng than chì.

5. ĐIỀU KIỆN CẦN THIẾT:
Nồi nấu kim loại phải có các điều kiện cần thiết sau đây:
– Vật liệu làm nồi nấu kim loại không được phản ứng với các hợp kim đúc
– Vật liệu chịu lửa làm nồi nấu kim loại phải chịu được sự hủy hoại mạnh do tác động của nhiệt độ và có sự giãn nở cao về thể tích do thường xuyên phải chịu sự biến đổi nhiệt độ.

6. HÌNH DẠNG NỒI NẤU:
Hình dạng nồi nấu có thể có đáy sâu giống như cốc nước hay có đáy nông và phần miệng nồi nấu phía trên được mở rộng để dễ thao tác.
Dạng nồi nấu có đáy nông và miệng rộng không được sử dụng trong các lò nấu vàng, chỉ có thợ kim hoàn tay nghề cao dùng chúng để nấu chảy vài gam hợp kim bằng đèn khò.
may nau vang, máy nấu vàng, lo nau vang, lò nấu vàng
Chúng có dạng hình vuông mỗi cạnh khoảng 8 – 10 cm và bề dày khoảng 2 cm. Chúng được làm bằng đất sét trắng chịu lửa và ở chính giữa phía trên có miệng rộng để dễ lấy xỉ ra ngoài, bên trong dùng để chứa một lượng nhỏ các hợp kim được hóa lỏng. Trong hình trên là một dạng nồi nấu có phần miệng mở rộng phù hợp cho công đoạn đúc (đúc chính xác) được giới thiệu.
Nồi nấu kim loại có dạng như cái cốc, còn gọi là cốc nấu thường được sử dụng phổ biến và chỉ khác nhau ở một số chi tiết nhỏ tùy thuộc vào cấu tạo của từng loại lò mà chúng được đặt vào đó.
may nau vang, máy nấu vàng, lo nau vang, lò nấu vàng
Trong hình trên, chúng ta có thể thấy nồi nấu được bố trí một miệng rót để tạo điều kiện rót hợp kim nấu chảy khi đúc và nó có dạng thuôn hình nón để dễ dàng gắp cốc nấu ra khỏi lò nấu bằng dụng cụ kẹp gắp.
may nau vang, máy nấu vàng, lo nau vang, lò nấu vàngmay nau vang, máy nấu vàng, lo nau vang, lò nấu vàng
Trong hình trên bên trái là một nồi nấu miệng kín cho đúc ly tâm được giới thiệu (có lỗ ở phần trên để dẫn hướng dòng chảy chất lỏng khi rót) và trong hình trên bên phải là nồi nấu hình trụ cho đúc tĩnh.
Nồi nấu dạng cốc nấu có ưu điểm là giữ được nhiệt độ của khối chất lỏng nấu chảy đồng đều, vì nó có ít bề mặt tiếp xúc với không khí.

7. DUNG TÍCH NỒI NẤU:
Hiện nay, các nhà máy sản xuất nồi nấu kim loại cung cấp ra thị trường một loạt các nồi nấu kim loại nóng chảy với dung lượng từ 125 g cho đến các loại lớn nhất là 100 kg hay cung cấp theo yêu cầu đặt hàng.

8. HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG NỒI NẤU ĐÚNG CÁCH:
– Nhà sản xuất nồi nấu kim loại cung cấp hướng dẫn sử dụng để bảo đảm cho nồi nấu không bị hư hỏng. Chúng phải được giữ ở một nơi khô ráo (ở gần lò nấu). Chúng phải được nung nóng từ từ và chầm chậm trước khi sử dụng nếu không chúng có thể bị nứt.
– Khi sử dụng nồi nấu mới, chúng phải được bao bọc bằng một lớp hàn the bên trong lòng để bảo vệ nồi nấu . Sau khi sử dụng, chúng phải được làm lạnh thật chậm. Ngăn ngừa chúng tiếp xúc với nước và phải loại bỏ bất kỳ cặn bám bên trong chúng sau khi nấu chảy.
– Đối với thành bên trong của nồi nấu kim loại, cần thiết phải được giữ gìn cẩn thận. Vì vậy, các hợp kim khi được đưa vào nấu chảy không nên có kích thước quá lớn nếu không trong quá trình nung nóng, chúng sẽ chèn ép lên thành nồi nấu và ngăn cản sự giãn nở nhiệt của thành nồi nấu gây ra hiện tượng nứt thành nồi nấu.
Nồi nấu kim loại bằng than chì bị ăn mòn bởi kiềm nóng chảy như sô-đa, bởi cac-bô-nat và trên tất cả là chất o-xy hóa như ni-trat. Nếu tất cả các chất ăn mòn trên không hiện diện trong quá trình nấu chảy thì nồi nấu kim loại chắc chắn sẽ kéo dài tuổi thọ. Trên thực tế, nhà sản xuất nồi nấu kim loại cho biết các chất ăn mòn thường ở dạng hỗn hợp hay một số khác được hình thành theo các loại tạp chất trong quá trình nóng chảy. Trong trường hợp bạch kim (pla-tin) nóng chảy, chúng dễ dàng phản ứng hóa học với hy-dro và si-lic trong hỗn hợp vật liệu chịu lửa của nồi nấu, cho nên hiện tượng này phải được loại bỏ.

 
9. CÁCH BẢO QUẢN NỒI NẤU:
Do nồi nấu kim loại đắt tiền, cho nên đừng vì tiết kiệm mà chỉ sử dụng duy nhất một nồi nấu để nấu chảy tất cả các loại hợp kim hay kim loại. Như thế, nồi nấu kim loại thường nhanh hư hỏng, không đảm bảo được tuổi thọ. Tốt hơn nên sử dụng nhiều loại nồi nấu để xử lý nhiều loại hợp kim hay kim loại vì những lý do sau: Mỗi nồi nấu nên được sử dụng riêng biệt, phân chia theo từng màu sắc hợp kim pha chế, theo từng độ tinh khiết của hợp kim pha chế và theo từng hợp kim phụ trợ hay từng hợp kim chính.

10. CÁCH KHẤY TRỘN HỢP KIM NÓNG CHẢY:
Một dụng cụ đặc biệt không thể thiếu đối với nồi nấu kim loại là que dùng để khuấy trộn hợp kim nóng chảy. Nó phải được làm bằng vật liệu chịu lửa (thường là than chì). Nhà sản xuất khuyến cáo nên dùng que khuấy bằng than chì thay vì dùng que khuấy bằng vật liệu nhựa như ba-ke-lit (Bakelite), ngay cả khi chúng chịu lửa. Cũng như khuyến cáo không được dùng que khuấy bằng sắt để khuấy trộn hợp kim nóng chảy vì khi tiếp xúc với hợp kim nóng chảy được nấu trong nồi nấu bằng điện có thể điện sẽ truyền từ trong hợp kim nóng chảy lên que khuấy gây giựt điện cho người khuấy. Khi dùng que khuấy không đúng có thể hình thành tạp chất không mong muốn trong hợp kim nóng chảy và tạo nên tính dòn của hợp kim gây ảnh hưởng xấu cho các quá trình gia công hợp kim kế tiếp.
Trong lò nấu chảy truyền thống, nhiệm vụ của que khuấy là tạo điều kiện thuận lợi cho việc đồng nhất hợp kim và để loại bỏ các loại xỉ được tạo ra bởi các chất khử o-xy. Trong lò nấu chảy cảm ứng, có thể que khuấy không được sử dụng bởi vì nhờ vào dòng điện cảm ứng tạo ra từ trường và chính chúng tự khuấy trộn hợp kim nóng chảy chứa trong nồi nấu. Nhưng nhờ sử dụng que khuấy, cho phép người thợ lò có thể xác định được toàn bộ hợp kim đã được nấu chảy hoàn toàn hay chưa.

11. KẸP GẮP NỒI NẤU:
Các công cụ khác cần thiết cho các thao tác đúc là kẹp gắp dung tay hình bán nguyệt, cho phép những người thợ lò lấy nồi nấu kim loại ra khỏi lò nấu sau khi hợp kim đã nóng chảy hoàn toàn và tiến hành rót hợp kim lỏng vào ống thạch cao. Bằng những cái kẹp gắp như thế, những người thợ lò có thể xử lý một cách an toàn các nồi nấu khi kẹp chặt nó ở giữa kẹp gắp.
may nau vang, máy nấu vàng, lo nau vang, lò nấu vàng
Thay vì dùng kẹp gắp bằng tay hình bán nguyệt, những người thợ lò có thể sử dụng kìm mũi vuông, trong trường hợp này, nồi nấu phải được kẹp chặt ở phần trên miệng nồi nấu .

may nau vang, máy nấu vàng, lo nau vang, lò nấu vàng

12. GĂNG TAY CHỊU NHIỆT:
Một vài ý kiến về trang bị bảo hộ này. Nên dùng loại găng tay đốt không cháy (bằng a-mi-ăng) hay găng tay bằng da dày hay các loại găng tay khác đã được thay thế bằng vật liệu chịu nhiệt khác, đó là các biện pháp phòng ngừa an toàn khi có việc cần dùng đến chúng.

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.